Một tình huống:
Chị N.T.Q. A, hiện đang lưu trú tại một cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình. Ròng rã 3 năm chị bị chồng bạo lực cả về tinh thần lẫn thể xác đến kiệt quệ, 3-4 ngày/tuần, thậm chí 1 tuần trời, chị và cả những đứa con vô tội cũng phải cùng mẹ nhận những trận đòn roi, những câu chửi bới thậm tệ từ người chồng, người cha bị lún sâu trong men rượu. Để có thể đi đến quyết định rời xa ngôi nhà đầy những khổ đau này, chị Q.A đã phải trải qua nhiều đêm trắng suy nghĩ.
“Thực ra là lúc đầu thì tôi chấp nhận. Bởi vì là nghĩ là muốn cho con cái được sống có cuộc sống đầy đủ bố mẹ. Khi mà nói ra thì không có nhiều người hiểu vì quá trình xảy ra đấy nó chỉ nằm gọn ở trên không gian ngôi nhà của mình thôi. Nên là người ngoài cũng ít biết hoặc là bản thân mình cũng thấy xấu hổ tủi nhục khi mà kể ra như thế. Bởi vì chồng mình mà, “xấu chàng hổ ai” nên mình cũng ngại chứ cũng không muốn kể ra mà kể ra thì có những người người ta hiểu thông cảm thì người ta chia sẻ mình nhưng có những người người ta cũng không hiểu. Nhưng đến một thời gian nào đó nó quá sức chịu đựng của mình rồi và bản thân tôi cảm thấy ảnh hưởng đến còn các con của mình không thể chịu đựng thêm nữa”, chị Q.A chia sẻ.
Chị Q.A. chỉ là một trong rất nhiều trường hợp bị chính người thân trong gia đình bạo hành, nhưng không phải người bị bạo lực gia đình nào cũng đủ dũng cảm quyết định rời xa nơi vốn được gọi là “mái ấm gia đình” nhưng lại đầy những đau đớn, khổ sở để tìm đến nơi thực sự an toàn như chị Q.A.
Theo kết quả điều tra quốc gia công bố năm 2020, gần 63% phụ nữ Việt Nam từng chịu ít nhất một hình thức bạo lực do chồng gây ra trong đời, trong đó, cứ 3 phụ nữ thì có gần 1 người bị chồng bạo lực thể xác hoặc tình dục. Tuy nhiên, 1/3 số gia đình mỗi khi xảy ra vấn nạn bạo lực gia đình thường không biết phải làm gì, 90,4% phụ nữ bị chồng bạo lực không tìm kiếm sự giúp đỡ. Bên cạnh đó, trên cả nước có 21,3% số trẻ bị xâm hại tình dục bởi chính người thân trong gia đình.
Để xóa bỏ “văn hóa im lặng”, cơ quan nhà nước đã thay đổi cách tiếp cận thông qua những chiến dịch truyền thông để không chỉ nạn nhân mà những người chứng kiến hoặc bạn bè, người thân, các nhân viên y tế cùng lên tiếng, thông báo, tố giác về vụ việc tới cơ quan chức năng. Đây là một trong những cách thức tiếp cận mang tính chất phòng ngừa, răn đe và ngăn chặn kịp thời.
Vừa qua Quốc hội đã thông qua Luật Phòng chống bạo lực gia đình và luật chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2023, việc này rất có ý nghĩa trong việc ngăn chặn bạo lực gia đình: “Trong dự thảo Luật vừa được Quốc hội thông qua đã quy định rất rõ về quy trình tin báo, tố giác hành vi bạo lực gia đình đã quy định khá rõ, quy định cả địa chỉ tiếp nhận tin báo cũng như là quy định trách nhiệm Chủ tịch cấp xã trong việc xử lý giải quyết tin báo một cách đầy đủ, rõ ràng, để người bị bạo lực gia đình cảm thấy mình được bảo vệ, mình được hỗ trợ và mình được pháp luật xử lý nghiêm những hành vi của người gây bạo lực gia đình”.
Bên cạnh đó, các chuyên gia cho rằng giải quyết bạo lực gia đình phải làm từ cả 2 phía, ngoài việc quan tâm, bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình thì cần có các hình thức hỗ trợ, tư vấn cho chính những người gây ra bạo lực gia đình như xây dựng tổng đài tư vấn, tiếp nhận phản ánh, đây là nơi họ có thể giải tỏa những cảm xúc ức chế, dồn nén, bình tĩnh hơn, qua đó hạn chế hậu quả đáng tiếc có thể xảy ra.
Để chấm dứt bạo lực gia đình, rất cần sự hỗ trợ, cảm thông từ chính những người xung quanh, và một cơ chế can thiệp kịp thời, nhanh chóng từ cơ quan chức năng, có như vậy, người bị bạo hành mới có thể dũng cảm đứng lên bảo vệ chính mình.
Có thể thấy, không chỉ những người yếu thế, phụ thuộc kinh tế vào chồng mà ngay cả những phụ nữ có vai trò, địa vị trong xã hội, làm chủ về kinh tế và nhận thức được việc bị bạo hành nhưng vẫn chấp nhận sống chung với bạo lực gia đình.
Điều gì khiến họ im lặng? Chính là những định kiến của xã hội và ngay cả bản thân họ về những tư tưởng xưa cũ “xấu chàng, hổ thiếp”, “đóng cửa bảo nhau”. Khi chứng kiến người khác bị bạo hành, nhiều người thờ ơ khi coi đó là “việc nhà người ta”, sợ phiền hà nếu can thiệp. Đáng nói không ít người còn có suy nghĩ “chắc phải có lý do gì thì mới đánh” khiến nạn nhân càng thêm bế tắc và không dám lên tiếng.
Theo luật mẫu của Liên Hợp quốc, khi cảnh sát được thông báo về một vụ bạo lực gia đình đang xảy ra hoặc sắp xảy ra, nhân viên cảnh sát sẽ phải ngay lập tức phải có mặt tại nơi được thông báo, lấy lời khai từ các bên và nhân chứng. Cảnh sát cũng bố trí phòng riêng để quá trình lấy lời khai được công tâm và nạn nhân cũng như nhân chứng được bảo vệ, không bị áp lực hay đe dọa trả thù từ thủ phạm. Người gây bạo lực cũng bị yêu cầu rời khỏi nhà ngay lập tức và nếu tiếp tục vi phạm sẽ bị bắt giữ.
Trong khi đó, tại nước ta, trong các vụ bạo lực gia đình, trước tiên sẽ tiến hành xử lý nội bộ, dàn xếp bằng tình cảm, nếu không thành công mới nhờ đến sự can thiệp của pháp luật. Việc hòa giải trên thực tế không thể giải quyết tận gốc của mâu thuẫn, đa phần kết quả là người phụ nữ lại tiếp tục phải nhẫn nhục, chịu đựng.
Chúng ta hiện cũng đã có đường dây nóng cho trẻ em và phụ nữ nhưng quy trình còn rườm rà, từ khâu tiếp nhận, phân loại, đến xác minh, sau đó mới thông báo cho cơ quan chức năng tiếp tục xác minh, xử lý. Trong khoảng thời gian chờ đợi, người bị bạo lực gia đình tiếp tục sống trong lo âu, sợ hãi, thậm chí còn bất an hơn bởi nỗi lo bị trả thù, không được bảo vệ khi đã trình báo.
Không ít người bị bạo lực gia đình đã tìm cách đưa tin tín hiệu cầu cứu lên “mạng xã hội” nhằm tạo áp lực để cơ quan chức năng đẩy nhanh quá trình xử lý vụ việc.
Vậy điều người bị bạo lực gia đình thực sự cần là gì? Đó là một hành lang pháp lý đủ chặt chẽ, chi tiết, nghiêm khắc giúp cho lực lượng thực thi dễ dàng áp dụng và mang tính răn đe. Hơn hết họ cần một hệ thống can thiệp, bảo vệ kịp thời, từ cấp tổ dân phố, cấp xã, lực lượng phản ứng nhanh có mặt ngay khi sự việc xảy ra.
Để ngăn chặn bạo lực gia đình, mọi người phải nhận thức được bạo lực không phải giải pháp để giải quyết mâu thuẫn và cần phải ngăn chặn bất kể bắt nguồn từ nguyên nhân gì. Bạo hành gia đình không phải là chuyện của riêng mỗi gia đình mà đó là hành vi vi phạm pháp luật, vấn đề của toàn xã hội và cần bị lên án.
Chúng ta cần có những hình thức tuyên truyền mang tính dài hơi, khéo léo nhằm thay đổi nhận thức của toàn xã hội về bình đẳng giới, quyền con người, những quy định pháp luật trong phòng, chống bạo lực gia đình… Hơn hết, cần xây dựng công cụ hiệu quả mạnh mẽ, như hệ thống can thiệp, chống bạo hành, bảo vệ người bị bạo lực gia đình, cách ly nguồn bạo lực.
Nếu một hệ thống pháp luật, chính quyền không “im lặng”, nếu như chỉ cần lên tiếng, sẽ được cộng đồng sẵn sàng dang rộng vòng tay bảo vệ, thì người bị bạo lực gia đình sẽ không “im lặng” mà dũng cảm nói lên câu chuyện của mình.
